ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 44/KH-UBND

Quảng Trị, ngày 16 tháng 3 năm 2022

 

KẾ HOẠCH

PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH TRUYỀN NHIỄM TRÊN NGƯỜI NĂM 2022

Phần thứ nhất:

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH TRUYỀN NHIỄM NĂM 2021

I. KẾT QUẢ PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH TRUYỀN NHIỄM

1. Tình hình dịch bệnh truyền nhiễm

Tình hình dịch bệnh truyền nhiễm (BTN) trong 2 năm 2020-2021 tại tỉnh Quảng Trị diễn biến phức tạp do dịch COVID-19 xâm nhập và gây dịch. Cùng với đó là ghi nhận các trường hợp mắc Viêm gan A tại các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Hướng Hóa; 01 ca tử vong do bệnh Dại tại huyện Đakrông. Các bệnh lưu hành khác được phát hiện sớm và xử lý kịp thời nên hạn chế lây lan.

Dịch bệnh COVID-19 xâm nhập, lây lan trên địa bàn, ca bệnh ghi nhận tại 9/10 huyện, thị xã, thành phố (huyện đảo Cồn Cỏ chưa ghi nhận ca mắc). Trong năm 2021, toàn tỉnh ghi nhận 2.237 ca mắc COVID-19, 03 trường hợp tử vong.

Viêm gan A: Dịch bệnh Viêm gan A vẫn đang diễn ra tại các xã miền núi của huyện Vĩnh Linh và rải rác tại các xã của huyện Gio Linh. Năm 2021 ghi nhận 30 trường hợp mắc, giảm 31,8% so với cùng kỳ năm 2020.

Sốt xuất huyết: Ghi nhận 60 trường hợp mắc, trong đó số trẻ em ≤ 15 tuổi mắc SXH: 22 trường hợp (36,6%), người lớn: 38 trường hợp (63,4%); Tỷ lệ mắc/100.000 dân của tỉnh: 9,1/100.000 dân, không có trường hợp tử vong xảy ra.

Bệnh Dại: ghi nhận 01 ca bệnh tại địa bàn xã Đakrông, huyện Đakrông. Đây là ca bệnh ghi nhận sau 5 năm liên tục Quảng Trị không có ca Dại.

Nhìn chung đa số bệnh truyền nhiễm giảm so với cùng kỳ năm trước gồm: Lỵ A míp, lỵ trực trùng, viêm gan vi rút, quai bị, cúm, tay - chân - miệng. Sốt xuất huyết giảm mạnh so với năm 2020. Các ca bệnh ghi nhận năm 2020 nhưng không ghi nhận vào năm 2021 bao gồm: Bạch hầu, sởi, não mô cầu, Uốn ván sơ sinh. Bên cạnh đó một số bệnh tăng so với cùng kỳ năm trước gồm: Thủy đậu, viêm não vi rút khác, viêm gan C, tiêu chảy.

II. DỰ BÁO TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH NĂM 2022 TRÊN ĐỊA BÀN

1. Cơ sở dự báo

Trên thế giới và tại Việt Nam, dịch bệnh luôn diễn biến phức tạp, luôn có nguy cơ bùng phát bệnh dịch, bệnh mới nổi, tái nổi, bệnh chưa rõ nguyên nhân, biến chủng tác nhân gây bệnh. Đặc biệt là dịch COVID-19 đang bùng phát. Các bệnh dịch nguy hiểm, bệnh cúm A(H7N9), MERS-CoV, sốt vàng... chưa khống chế được triệt để, vẫn có xu hướng gia tăng; một số bệnh trước đây đã được khống chế nhưng hiện gia tăng trở lại ở nhiều tỉnh trong khu vực như bệnh tay chân miệng, sốt xuất huyết, sởi, bạch hầu.

- Một số bệnh truyền nhiễm lưu hành tại Quảng Trị như tay chân miệng, viêm não vi rút ..., tuy đã được kiểm soát nhưng vẫn có nguy cơ lây lan, bùng phát nếu không quyết liệt thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch một cách triệt để.

- Các bệnh dịch chủ yếu do vi rút (Tay chân miệng, sốt xuất huyết...), không có thuốc điều trị đặc hiệu, một số bệnh chưa có vắc xin dự phòng, các biện pháp phòng chống dịch chủ yếu là các biện pháp không đặc hiệu, tuy đã được kiểm soát và có số mắc giảm nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ lay lan, bùng phát. Các bệnh truyền nhiễm đã được thanh toán, loại trừ tại Việt Nam như dịch hạch, bại liệt luôn có nguy cơ tái xâm nhập.

- Biến đổi khí hậu, biến động về dân cư, đô thị hóa, đặc biệt là thói quen vệ sinh cá nhân, vệ sinh an toàn thực phẩm của một bộ phận lớn dân cư chưa được tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều dịch bệnh mới phát sinh, cũng như các dịch bệnh đã được khống chế nay xuất hiện trở lại.

- Một số địa phương chưa có sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền các cấp đối với công tác phòng chống dịch, chưa thấy được sự cần thiết và tính cấp bách của công tác phòng, chống dịch bệnh, coi công tác phòng chống dịch bệnh là nhiệm vụ của ngành y tế, các Ban ngành đoàn thể chưa tham gia tích cực vào công tác phòng chống dịch bệnh.

- Nhận thức của người dân còn hạn chế, chưa tự giác tham gia các hoạt động phòng, chống dịch bệnh tại cộng đồng; bệnh dại còn ghi nhận trường hợp tử vong do người dân không chủ động, tự giác đi tiêm phòng vắc xin dại; có thói quen, tập quán ăn uống không đảm bảo vệ sinh.

- Bùng nổ dân số, đô thị hóa, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, sự giao lưu rộng rãi của người dân, hậu quả của thiên tai, lụt bão đang tác động tiêu cực tới các hoạt động y tế dự phòng, có thể làm phát sinh, phát triển dịch bệnh.

- Việc triển khai hoạt động kiểm dịch y tế đối với người còn gặp khó khăn do các nguyên nhân chính như: điều kiện cơ sở làm việc còn nhiều hạn chế và phòng cách ly, các trang thiết bị phục vụ khám, phát hiện các triệu chứng liên quan tới các bệnh dịch chưa được trang bị hoặc còn thiếu và đặc biệt là bác sĩ tại các cửa khẩu còn thiếu. Đội ngũ cán bộ thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh, kiểm dịch, tiêm chủng không ổn định, có nhiều trường hợp luân chuyển, kiêm nhiệm công tác, nhân lực còn thiếu và yếu ở nhiều nơi.

- Kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia liên tục bị cắt giảm hàng năm, đến năm 2020 đã kết thúc Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020, kinh phí bố trí cho công tác phòng, chống dịch tại địa phương hạn chế, nhiều địa phương không bố trí hoặc bố trí chậm kinh phí cho công tác phòng, chống dịch bệnh.

2. Dự báo tình hình dịch bệnh

Trong năm 2022 tình hình dịch bệnh có thể tiếp tục diễn biến phức tạp do những yếu tố khách quan và chủ quan:

- Bệnh COVID-19 đang bùng phát tại Việt Nam và trên địa bàn tỉnh.

- Một số bệnh mới nổi nguy hiểm như: cúm A/H7N9, Ebola, MERS - CoV có nguy cơ xâm nhập vào Việt Nam và có thể xuất hiện trên địa bàn tỉnh ở mức độ trung bình, nguy cơ tử vong nếu dịch được ghi nhận trên địa bàn tỉnh.

- Một số bệnh tái nổi như: bạch hầu, ho gà có khả năng gia tăng trên địa bàn tỉnh .

- Một số bệnh truyền nhiễm lưu hành như: sốt rét, tay chân miệng tiếp tục xuất hiện và có khả năng gia tăng; bệnh sốt xuất huyết có khả năng bùng phát trong năm 2022.

- Bệnh trên động vật, gia cầm (như cúm A/H5N1, H5N6...) tiếp tục xảy ra rải rác tại một số địa phương, đặc biệt các huyện vùng đồng bằng.

- Một số bệnh liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm có khả năng xảy ra.

Phần thứ hai:

KẾ HOẠCH PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH TRUYỀN NHIỄM NĂM 2022

I. CĂN CỨ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH

- Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm số 03/2007/QH12 ngày 21/11/2007;

- Nghị định số 101/2010/NĐ-CP ngày 30/9/2010 của Chính phủ về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về áp dụng biện pháp cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế và chống dịch đặc thù trong thời gian có dịch;

- Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25/6/2018 của Chính phủ về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về kiểm dịch Y tế biên giới

- Thông tư số 17/2019/TT-BYT ngày 17/7/2019 của Bộ Y tế về hướng dẫn giám sát, đáp ứng với bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm;

- Thông tư liên tịch số 16/2013/TTLT-BYT-BNN&PTNT ngày 27/5/2013 về việc hướng dẫn phối hợp phòng, chống bệnh lây truyền từ động vật sang người;

- Thông tư số 54/2015/TT-BYT ngày 28/12/2015 của Bộ Y tế về hướng dẫn chế độ thông tin báo cáo và khai báo bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm;

- Quyết định số 56/2010/QĐ-TTg ngày 16/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định thẩm quyền thành lập, tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo chống dịch các cấp;

- Quyết định 5894/QĐ-BYT ngày 19/12/2019 của Bộ Y tế về việc ban hành "Hướng dẫn thiết lập và vận hành đội đáp ứng nhanh";

- Quyết định số 2018/QĐ-BYT ngày 28/3/2018 của Bộ Y tế về việc ban hành “Hướng dẫn giám sát dựa vào sự kiện”;

- Quyết định số 165/QĐ-BYT ngày 21/01/2022 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Kế hoạch Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2022 ;

- Căn cứ tình hình dịch bệnh trong thời gian qua và dự báo nguy cơ trong thời gian tới.

II. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU

1. Mục tiêu

1.1. Mục tiêu chung

- Giảm tỷ lệ mắc và tử vong do các bệnh truyền nhiễm, khống chế kịp thời dịch bệnh, không để dịch lớn xảy ra góp phần bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội tỉnh.

- Kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh COVID-19, hạn chế thấp nhất số ca tử vong, khống chế không để dịch bùng phát lây lan rộng trên địa bàn tỉnh.

1.2. Mục tiêu cụ thể

- Giám sát chặt chẽ, phát hiện dịch sớm, đáp ứng nhanh và xử lý triệt để các ổ dịch tại cộng đồng, không để dịch lan rộng và kéo dài.

- Ngăn chặn kịp thời dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm không để xâm nhập vào tỉnh.

- Thu dung, cấp cứu, điều trị kịp thời các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm, hạn chế thấp nhất các trường hợp tử vong, biến chứng.

- Duy trì kết quả tiêm chủng trong Chương trình TCMR, tiêm chủng chiến dịch, không có vùng lõm về tiêm chủng.

- Tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, để người dân được tiếp nhận thông tin về các biện pháp phòng chống dịch, bệnh.

- Đảm bảo hiệu quả hoạt động phối hợp liên ngành triển khai các hoạt động phòng chống dịch bệnh.

- Đảm bảo kinh phí, thuốc, hóa chất, nguồn lực, sẵn sàng đáp ứng kịp thời các tình huống dịch bệnh.

2. Các chỉ tiêu

2.1. Các chỉ tiêu về chuyên môn

- 100% UBND các cấp từ tỉnh đến xã, phường, thị trấn xây dựng và triển khai Kế hoạch phòng chống dịch bệnh sát với tình hình thực tế của địa phương.

- 100% UBND xã, phường, thị trấn xây dựng lực lượng cộng tác viên y tế - dân số, đội xung kích diệt bọ gậy..., nhằm hỗ trợ cơ quan y tế địa phương thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

- 100% UBND xã, phường, thị trấn xây dựng lực lượng tổ COVID cộng đồng, tổ hỗ trợ theo dõi chăm sóc người bệnh COVID-19 tại nhà để hỗ trợ ngành Y tế trong công tác phòng, chống dịch.

- 100% các cơ sở khám, chữa bệnh và cơ sở y tế dự phòng đóng trên địa bàn tỉnh thực hiện khai báo, báo cáo bệnh truyền nhiễm bằng phần mềm trực tuyến theo quy định của Bộ Y tế; 100% các cơ sở tiêm chủng đóng trên địa bàn tỉnh triển khai thực hiện hệ thống quản lý thông tin tiêm chủng quốc gia.

- 100% cán bộ y tế trong hệ thống giám sát xử lý, cấp cứu điều trị các loại dịch bệnh từ tỉnh đến cơ sở được tập huấn để nắm vững kiến thức, kỹ năng về công tác phòng, chống dịch bệnh.

- 100% các huyện, thị xã, thành phố đến các xã, phường, thị trấn, các trường học, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, công trường xây dựng đóng trên địa bàn duy trì hoạt động tổng vệ sinh môi trường chủ động phòng, chống dịch bệnh.

- Tổ chức giám sát phát hiện sớm, điều tra, khoanh vùng đúng, xử lý kịp thời, triệt để 100% các ổ dịch, sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các dịch bệnh mới nổi, tái nổi, dịch bệnh xâm nhập nhằm hạn chế thấp nhất tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong, giảm thiểu tối đa những thiệt hại về kinh tế, văn hóa xã hội; tổ chức khoanh vùng, điều tra xử lý khống chế nhanh chóng các ổ dịch nhằm giảm số mắc và tử vong do các dịch bệnh truyền nhiễm lưu hành địa phương.

- Đảm bảo tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt trên 95% quy mô xã, phường, thị trấn; tiêm chủng các loại vắc xin khác trong tiêm chủng mở rộng đạt tỷ lệ cao theo kế hoạch của chương trình tiêm chủng mở rộng; duy trì thành quả thanh toán bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh, tiến tới loại trừ bệnh sởi.

- 100% các trường hợp người nhập cảnh, người về từ vùng dịch COVID- 19; người tiếp xúc gần với các trường hợp dương tính SARS-CoV-2 được cách ly, theo dõi giám sát sức khỏe chặt chẽ, lấy mẫu xét nghiệm theo đúng quy định.

- Nâng cao năng lực phòng xét nghiệm các tuyến, tăng cường công tác xét nghiệm tìm tác nhân gây bệnh, đặc biệt là xét nghiệm 100% các trường hợp nghi ngờ nhiễm COVID-19 theo quy định.

- Tăng cường công tác truyền thông phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm và truyền thông nâng cao sức khỏe tại cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, chú trọng truyền thông nguy cơ, truyền thông trực tiếp.

- Tăng cường sự phối hợp liên ngành trong việc triển khai các biện pháp phòng, chống dịch như: Truyền thông, chia sẻ thông tin, tổ chức triển khai các hoạt động chủ động phòng, chống dịch, kiểm tra, giám sát hỗ trợ các hoạt động phòng, chống dịch tại địa phương.

- Đảm bảo đủ kinh phí, thuốc, dịch truyền, trang thiết bị, hóa chất đáp ứng kịp thời công tác phòng, chống dịch.

2.2. Chỉ tiêu đối đối với một số bệnh truyền nhiễm cụ thể

- Bệnh COVID-19: Phát hiện sớm trường hợp mắc, kịp thời khống chế hạn chế lây lan, hạn chế đến mức thấp nhất số người mắc, tử vong do bệnh COVID-19. Tăng cường xét nghiệm bằng test nhanh kháng nguyên SARS-CoV-2, giảm xét nghiệm bằng phương pháp Realtime-PCR.

- Bệnh tả: Phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh tả và hạn chế mức tối đa các trường hợp mắc, không để lây lan thành dịch.

- Bệnh tay chân miệng: tỷ lệ mắc dưới 95/100.000 dân, không có trường hợp tử vong.

- Bệnh sốt xuất huyết Dengue: tỷ lệ mắc dưới 120/100.000 dân, khống chế trường hợp tử vong.

- Bệnh sởi: Giảm tỷ lệ mắc bệnh sởi/100.000 dân dưới 5/100.000 dân. Hạn chế tối đa các trường hợp mắc, không để lây lan thành dịch.

- Bệnh Bạch hầu: Giảm tỷ lệ mắc bệnh bạch hầu/100.000 dân dưới 0,02/100.000 dân.

- Bệnh dại: Khống chế trường hợp mắc và tử vong.

- Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác: giảm 5% so với trung bình giai đoạn 2015-2020.

III. CÁC GIẢI PHÁP

1. Tổ chức, chỉ đạo

- Củng cố, nâng cao năng lực của hệ thống phòng chống dịch từ tỉnh đến cơ sở để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

- Tăng cường hoạt động Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh các cấp để nâng cao chất lượng, hiệu quả và chủ động trong phòng chống bệnh dịch, kịp thời chỉ đạo triển khai công tác phòng, chống và ứng phó khi dịch bệnh xảy ra trên địa phương.

- Sở Y tế kịp thời tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo công tác phòng chống dịch, không để dịch bệnh bùng phát, đặc biệt đối với các bệnh nguy hiểm, mới nổi và các bệnh lưu hành có số mắc cao (COVID-19, cúm A(H7N9), cúm A(H5N1), Zika, Ebola, sốt xuất huyết, bạch hầu...), đảm bảo nguồn kinh phí cho công tác phòng chống dịch bệnh.

- Tăng cường chỉ đạo công tác truyền thông, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của cộng đồng tích cực tham gia, hưởng ứng các hoạt động phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

- Tăng cường chỉ đạo giám sát, kiểm tra, đôn đốc và hỗ trợ tuyến dưới. Tổ chức đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ cho tất cả các tuyến.

- Định kỳ họp Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh, nhận định tình hình và triển khai các hoạt động phòng chống phù hợp theo tình hình thực tế của dịch bệnh.

- Thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách cho cán bộ tham gia chống dịch bệnh truyền nhiễm theo quy định.

- Tăng cường việc thông tin báo cáo và khai báo bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm theo Thông tư số 54/2015/TT-BYT ngày 28/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

2. Chuyên môn kỹ thuật

2.1. Các giải pháp giảm mắc

- Tăng cường giám sát dịch bệnh chủ động tại cửa khẩu và cộng đồng, phát hiện sớm các ca bệnh đầu tiên để cách ly, thu dung và điều trị kịp thời. Xử lý ổ dịch triệt để nhằm hạn chế lây lan và không để dịch bệnh lan rộng và bùng phát.

- Tăng cường và mở rộng triển khai giám sát dựa vào sự kiện (EBS) lồng ghép với hệ thống giám sát thường xuyên (giám sát dựa vào chỉ số).

- Tăng cường việc phối hợp liên ngành tại các cửa khẩu, xây dựng các biên bản phối hợp liên ngành để tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động kiểm dịch y tế. Thực hiện giám sát chặt chẽ tại cửa khẩu và thực hiện Nghị định số 89/2018/NĐ-CP của Chính phủ.

- Xây dựng kế hoạch đáp ứng theo từng tình huống dịch bệnh. Chuẩn bị sẵn sàng phương án, kế hoạch phối hợp, ứng phó theo tình huống nếu xảy ra dịch bệnh lớn hoặc xảy ra đại dịch, các tình huống nguy cơ về y tế công cộng.

- Thiết lập và vận hành Đội đáp ứng nhanh tại các tuyến có đủ năng lực và trang thiết bị sẵn sàng thực hiện xử lý ổ dịch, hỗ trợ tuyến trước khi có dịch bệnh xảy ra.

- Thường xuyên đánh giá nguy cơ, nhận định tình hình dịch bệnh; kiện toàn, đẩy mạnh hoạt động đáp ứng tình huống khẩn cấp phòng chống dịch bệnh nhằm tăng cường sự phối hợp, chia sẻ thông tin và huy động các nguồn lực trong công tác giám sát, đáp ứng dịch bệnh truyền nhiễm.

- Thực hiện tốt chương trình Tiêm chủng mở rộng, tiêm chủng chống dịch, thường xuyên rà soát đối tượng và tổ chức tiêm vét các loại vắc xin trong tiêm chủng mở rộng, đặc biệt tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đi lại khó khăn, vùng có dân tộc thiểu số sinh sống, bảo đảm tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin trong chương trình Tiêm chủng mở rộng đạt 95% trở lên trong phạm vi toàn tỉnh.

- Công tác xét nghiệm: Tiếp tục tăng cường năng lực xét nghiệm chẩn đoán tác nhân gây bệnh cho các cơ sở y tế tại các tuyến, đặc biệt là công tác xét nghiệm đối với những dịch bệnh nguy hiểm mới nổi như dịch bệnh COVID-19. Củng cố và nâng cao năng lực xét nghiệm, đặc biệt năng lực thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu để chủ động triển khai giám sát, đánh giá sự lưu hành của các chủng tác nhân gây bệnh mới, các biến chủng để có kế hoạch đáp ứng phù hợp.

- Thực hiện tốt công tác thông tin báo cáo và khai báo bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm theo Thông tư số 54/2015/TT-BYT ngày 28/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

2.2. Các giải pháp giảm tử vong

- Tăng cường triển khai tiêu chí bệnh viện an toàn phòng chống dịch COVID-19 và các dịch bệnh truyền nhiễm, bảo đảm hoạt động khám, chữa bệnh an toàn; cập nhật thường xuyên việc thực hiện bệnh viện an toàn thông qua ứng dụng công nghệ thông tin theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

- Tăng cường thực hiện nghiêm việc sàng lọc, phân loại, phân luồng, kiểm soát triệt để người bệnh tới khám bệnh, chữa bệnh, người đi lại giữa các khoa, phòng để phòng, chống lây nhiễm trong bệnh viện; chú trọng đảm bảo công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện, nhất là tại các khoa điều trị bệnh nhân nặng; đảm bảo công tác quản lý chất thải, vệ sinh môi trường.

- Tổ chức tốt hệ thống cấp cứu, điều trị bệnh nhân, sẵn sàng khu vực cách ly, các đội cấp cứu lưu động tăng cường công tác phòng chống nhiễm khuẩn, lây nhiễm chéo tại các cơ sở khám chữa bệnh nhằm giảm đến mức tối đa số mắc và tử vong.

- Tăng cường năng lực cho bệnh viện các tuyến, tổ chức phân tuyến điều trị, phòng lây nhiễm chéo tại các cơ sở khám, chữa bệnh.

- Rà soát, cập nhật và bổ sung các hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh truyền nhiễm. Tập huấn cho cán bộ y tế tham gia điều trị và điều dưỡng tại các bệnh viện về chẩn đoán và điều trị sử dụng các trang thiết bị hồi sức cấp cứu.

- Tổ chức các đội cấp cứu lưu động để hỗ trợ tuyến dưới. Tập huấn về các phác đồ điều trị, hồi sức cấp cứu, chăm sóc bệnh nhân, phòng lây nhiễm.

- Chuẩn bị sẵn sàng kinh phí, hóa chất, thuốc, trang thiết bị y tế kịp thời cho các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai các biện pháp chống dịch.

- Xây dựng các thông điệp truyền thông cho người bệnh, người chăm sóc, gia đình người bệnh về phát hiện sớm các dấu hiệu của bệnh, một số kiến thức cơ bản về phòng bệnh.

3. Truyền thông giáo dục sức khoẻ

- Tiếp tục tuyên truyền hướng dẫn cộng đồng thực hiện đầy đủ các khuyến cáo phòng, chống dịch trong tình hình mới, thực hiện tốt quy định 5K (khẩu trang - khử khuẩn - khoảng cách - không tụ tập - khai báo y tế).

- Đẩy mạnh công tác truyền thông đến cộng đồng về phòng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh và tiêm chủng phòng bệnh, đặc biệt đến các nhóm đối tượng nguy cơ (trường học, khu công nghiệp, nhà trọ...). Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe về bệnh dại để tất cả người dân tuân thủ việc tiêm phòng bệnh dại sau phơi nhiễm.

- Xay dựng mô hình truyền thông số trong chỉ đạo, điều hành, trao đổi thông tin về dịch bệnh và hoạt động giám sát đáp ứng giữa các tuyến.

- Xây ựng các tài liệu truyền thông phù hợp với đặc thù tại khu vực cửa khẩu cho các hành khách xuất nhập cảnh.

- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chủ động ứng phó, xử lý các tình huống thông tin y tế bất cập, kịp thời cung cấp thông tin bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân.

- Chủ động, thường xuyên cung cấp thông tin kịp thời và chính xác về tình hình dịch bệnh, phối hợp với các cơ quan truyền thông đại chúng, hệ thống thông tin và truyền thông tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, khuyến cáo phòng, chống dịch bệnh.

- Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe, phổ biến kiến thức về các biện pháp phòng bệnh, lợi ích tiêm chủng để vận động nhân dân chủ động đưa trẻ đi tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch, phối hợp và tham gia các hoạt động phòng, chống dịch bệnh.

- Tiếp tục tổ chức các chiến dịch tuyên truyền rửa tay bằng xà phòng, chiến dịch vệ sinh môi trường; duy trì thực hiện tốt phong trào vệ sinh yêu nước nâng cao sức khỏe nhân dân.

4. Phối hợp liên ngành

- Phối hợp chặt chẽ giữa các Sở, Ban, ngành trong công tác quản lý nhập cảnh, cách ly, giám sát y tế đối với chuyên gia, công dân Việt Nam nhập cảnh; chỉ đạo, hướng dẫn và giải quyết các trường hợp ưu tiên nhập cảnh vào Việt Nam, đồng thời ngăn chặn dịch bệnh xâm nhập.

- Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành: Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giáo dục và Đào tạo, Quốc phòng, Công an, Ngoại giao, Thông tin và Truyền thông, Tài chính, Giao thông vận tải và các đơn vị liên quan triển khai công tác phòng chống dịch bệnh trên người, bệnh từ động vật lây truyền sang người, phòng chống buôn lậu gia cầm, gia súc, các sản phẩm từ gia cầm, gia súc không rõ nguồn gốc xuất xứ; phối hợp giám sát chặt chẽ các đối tượng phải kiểm dịch tại các cửa khẩu.

- Ngành Y tế phối hợp với Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các đơn vị liên quan để đẩy mạnh các hoạt động phòng chống dịch bệnh lây truyền từ động vật sang người.

- Ngành Y tế phối hợp với các ngành Giáo dục đào tạo triển khai công tác phòng chống dịch bệnh trong trường học.

- Huy động các ban ngành đoàn thể: Phụ nữ, Thanh niên, Hội Chữ thập đỏ, Nông dân tham gia công tác chống dịch.

5. Hợp tác Quốc tế

Phối hợp chặt chẽ với các tỉnh MukDahan (Thái lan), Savannakhet (Lào) trong hoạt động phối hợp phòng, chống bệnh truyền nhiễm qua Biên giới của 3 tỉnh 3 nước.

6. Đầu tư các nguồn lực

- Đầu tư tài chính cho công tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm. Rà soát, bổ sung kinh phí mua sắm thuốc, vật tư, trang thiết bị phục vụ công tác giám sát, xử lý ổ dịch, thu dung, cấp cứu, điều trị bệnh nhân trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Tăng cường các hoạt động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để thực hiện công tác y tế dự phòng một cách hiệu quả.

- Thực hiện đầy đủ và kịp thời các chế độ, phụ cấp chống dịch, trực dịch cho cán bộ tham gia chống dịch bệnh.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Sở Y tế

- Tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo công tác phòng, chống dịch trên địa bàn tỉnh: Xây dựng kế hoạch phòng, chống dịch năm 2022; tổ chức giao ban định kỳ, giao ban đột xuất (khi cần thiết), nắm bắt thông tin về diễn biến của dịch để có chỉ đạo kịp thời; tổ chức kiểm tra công tác phòng, chống dịch của các huyện, thị xã, thành phố.

- Chỉ đạo các đơn vị trong ngành thực hiện tốt các hoạt động chuyên môn trong công tác phòng, chống dịch: giám sát chặt chẽ dịch tại cộng đồng, cơ sở y tế (giám sát trọng điểm, giám sát ổ dịch cũ, giám sát véc tơ truyền bệnh, giám sát ca bệnh...) để kịp thời phát hiện sớm, xử lý triệt để không để dịch bùng phát; giám sát hành khách nhập cảnh từ các vùng có dịch, vùng có ổ dịch cũ nhằm phát hiện sớm ca bệnh dịch để cách ly không để dịch xâm nhập. Các cơ sở khám, chữa bệnh phải thực hiện nghiêm việc phân luồng, kiểm soát người ra vào, đảm bảo công tác phòng hộ cho đội ngũ y bác sỹ nhằm không để lây nhiễm chéo dịch bệnh. Chuẩn bị khu cách ly đủ giường bệnh, thuốc, dịch truyền, trang thiết bị cũng như nhân lực sẵn sàng tiếp nhận, cách ly, điều trị bệnh nhân.

- Đảm bảo đầy đủ các trang thiết bị, vật tư, hóa chất, thuốc men... cho công tác phòng, chống dịch.

- Phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí thông tin kịp thời, chính xác diễn biến dịch; phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông và các Sở, ngành đoàn thể trong hoạt động truyền thông phòng, chống dịch tại cộng đồng.

2. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

-

- Tải về tài liệu PDF

- In tài liệu
Đang cập nhật

Viết đánh giá

     Nội dung không đầy đủ   Thông tin không chính xác   Khác 
Lưu ý: không hỗ trợ HTML!