CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 205/NQ-CP

Hà Nội, ngày 06 tháng 7 năm 2025

 

NGHỊ QUYẾT

PHIÊN HỌP CHÍNH PHỦ THƯỜNG KỲ THÁNG 6 NĂM 2025 VÀ HỘI NGHỊ TRỰC TUYẾN CHÍNH PHỦ VỚI ĐỊA PHƯƠNG

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;

Căn cứ Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;

Trên cơ sở thảo luận của các Thành viên Chính phủ, ý kiến các đại biểu dự họp và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 năm 2025 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương, tổ chức vào ngày 03 tháng 7 năm 2025.

QUYẾT NGHỊ:

I. Về tình hình kinh tế - xã hội tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2025; phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm tháng 7, quý III và 6 tháng cuối năm 2025

1. Những kết quả nổi bật

Chính phủ thống nhất đánh giá: Trong tháng 6, quý II và 06 tháng đầu năm 2025, tình hình thế giới tiếp tục có nhiều diễn biến mới, nhanh chóng, phức tạp, khó lường; căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự tiếp tục leo thang tại một số quốc gia, khu vực; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; chiến tranh thương mại chưa chấm dứt, chính sách thuế quan của Hoa Kỳ liên tục thay đổi, ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường đầu tư, kinh doanh toàn cầu, triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới suy giảm. Ở trong nước, dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm; sự đồng hành, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của Quốc hội; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; sự đồng thuận, tham gia tích cực của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp; sự hỗ trợ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương đã bám sát chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; theo dõi sát, nắm chắc tình hình, chỉ đạo, điều hành quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm các nhiệm vụ, giải pháp đề ra trên các lĩnh vực; vừa tập trung xử lý những công việc thường xuyên ngày càng nhiều, yêu cầu ngày càng cao, vừa chú trọng giải quyết những vấn đề tồn đọng, kéo dài và ứng phó, thích ứng linh hoạt, hiệu quả với những vấn đề cấp bách, đột xuất phát sinh; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 06 tháng đầu năm 2025 thuộc thẩm quyền được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó, với khối lượng công việc rất lớn, phức tạp, chưa từng có tiền lệ trong thời gian rất ngắn, nhất là việc triển khai cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp...

Trong 06 tháng đầu năm 2025, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 203 văn bản quy phạm pháp luật, 3.440 văn bản chỉ đạo, điều hành; tổ chức 1.167 hội nghị, cuộc họp, làm việc và đi công tác địa phương, cơ sở; nhiều chính sách, giải pháp đã phát huy hiệu quả. Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 06 tháng năm 2025 đạt nhiều kết quả quan trọng trên hầu hết các lĩnh vực, tiếp tục xu hướng tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau cao hơn quý trước, 6 tháng đầu năm nay cao hơn so với cùng kỳ năm trước, là điểm sáng nổi bật về tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được thúc đẩy, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II ước đạt 7,96% so với cùng kỳ, 06 tháng đạt 7,52%, cơ bản đạt kịch bản tăng trưởng 7,6% nêu tại Nghị quyết số 154/NQ-CP, là mức cao nhất trong giai đoạn 2011 - 2025, dự báo cao nhất ASEAN và thuộc nhóm dẫn đầu thế giới. Có 17/34 địa phương sau sáp nhập tăng trưởng trên 8%; trong đó, các địa phương đạt tốc độ tăng trưởng xấp xỉ hai con số trở lên như: Quảng Ngãi, Hải Phòng, Quảng Ninh, Ninh Bình, Bắc Ninh, Phú Thọ, Đà Nẵng... Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 06 tháng tăng 3,27% so với cùng kỳ. Thị trường tiền tệ cơ bản ổn định, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục xu hướng giảm. Thu ngân sách nhà nước 06 tháng bằng 67,7% dự toán, tăng 28,3% so với cùng kỳ năm trước trong bối cảnh đã miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất khoảng 107,7 nghìn tỷ đồng. Triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, đáp ứng nhiệm vụ chi phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, thực hiện các chế độ, chính sách, đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang khi sắp xếp bộ máy, thanh toán các khoản nợ đến hạn, các chính sách an sinh xã hội theo quy định. Bội chi, nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia được kiểm soát tốt.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tháng 6 tăng cao so với cùng kỳ, lần lượt đạt 18,1%, 16,3%, 20,2%; tính chung 06 tháng, xuất khẩu tăng 14,4%, xuất siêu ước đạt 7,63 tỷ đô la Mỹ (USD). Giải ngân vốn đầu tư công tăng tốc; ước giải ngân đến hết tháng 6 là 268,1 nghìn tỷ đồng, đạt 32,46% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn so với cùng kỳ 4,26% về tỷ lệ, khoảng 80 nghìn tỷ đồng về số tuyệt đối. Việc triển khai các dự án, công trình trọng điểm quốc gia tiếp tục được đẩy mạnh. Trong tháng 6 đã đưa vào khai thác thêm 06 dự án thành phần cao tốc Bắc - Nam phía Đông, nâng tổng chiều dài đường bộ cao tốc đưa vào khai thác của cả nước lên 2.268 km.

Các ngành, lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế tăng trưởng tích cực. Công nghiệp duy trì đà phát triển ổn định; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 6 tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 06 tháng tăng 9,2%, cao nhất từ năm 2020 đến nay; nhiều địa phương có chỉ số IIP tăng cao như Phú Thọ, Ninh Bình, Bắc Giang, Quảng Ngãi...; an ninh năng lượng được bảo đảm. Khu vực nông nghiệp phát triển tốt, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, bảo đảm an ninh lương thực. Khu vực thương mại dịch vụ tăng trưởng mạnh; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 6 tăng 8,3%, tính chung 06 tháng tăng 9,3% so với cùng kỳ. Du lịch tiếp tục là điểm sáng; khách quốc tế đến Việt Nam trong 06 tháng đạt gần 10,7 triệu lượt người, tăng 20,7% so với cùng kỳ. Trong tháng 6, có hơn 24,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 60,5% so với cùng kỳ; số lượng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động đạt gần 14,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 91,1%; tính chung 06 tháng, có hơn 152,7 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 26,5% so với cùng kỳ. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 06 tháng tăng 9,8%; tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký đạt trên 21,5 tỷ USD, tăng 32,6%, vốn FDI thực hiện đạt trên 11,7 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ. Nhiều tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực về công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và dự báo khả quan về tăng trưởng kinh tế của nước ta.

Công tác bảo đảm an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời, công khai, minh bạch. Tính chung 06 tháng Chính phủ đã hỗ trợ hơn 10,3 nghìn tấn gạo cho người dân dịp Tết Nguyên đán, giáp hạt; các chương trình tín dụng chính sách xã hội đã hỗ trợ vay vốn cho trên 1,3 triệu đối tượng. Các cấp, các ngành, các địa phương đã hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát với số lượng 263.843 căn nhà, đạt 94,7% kế hoạch, trong đó khánh thành 224.854 căn, đang xây dựng 37.989 căn. Đời sống của nhân dân tiếp tục được nâng lên, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng không thay đổi và tăng lên so với cùng kỳ năm trước là 96,6%, tăng 1% so với cùng kỳ.

Các lĩnh vực văn hóa, xã hội tiếp tục được chú trọng. Các cấp, các ngành, các địa phương đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật đặc sắc, có ý nghĩa nhân kỷ niệm 100 năm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, 110 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh...; tích cực chuẩn bị triển lãm “80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”, kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9; đồng thời, chủ động, tích cực tổ chức đại hội thi đua, tạo không khí sôi nổi lập thành tích chào mừng Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI và Đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Tổ chức thành công kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia năm 2025. Thực hiện hiệu quả công tác khám, chữa bệnh, phòng, chống dịch bệnh, nhất là dịch bệnh truyền nhiễm, thường gặp trong mùa nắng nóng; chất lượng dịch vụ y tế được nâng lên, bảo đảm thuốc, vật tư y tế.

Công tác sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình chính quyền địa phương 2 cấp được triển khai quyết liệt, bám sát chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đồng chí Tổng Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chính phủ đã ban hành 28 Nghị định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền; Thủ tướng Chính phủ đã chủ trì Hội nghị toàn quốc chỉ đạo hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ của cấp xã (mới). Ngày 30 tháng 6 năm 2025, toàn bộ 34/34 địa phương đã đồng loạt tổ chức Lễ công bố các Nghị quyết, quyết định của Trung ương, địa phương về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, thành lập đảng bộ tỉnh, thành phố và nhân sự lãnh đạo địa phương để chính thức vận hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, đánh dấu giai đoạn phát triển mới của bộ máy hành chính nhà nước và hệ thống chính trị đồng bộ, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gần dân hơn. Mô hình tổ chức mới bước đầu hoạt động ổn định, các thủ tục hành chính được xử lý nhanh chóng, không xảy ra gián đoạn, tạo tiền đề tích cực để tiếp tục hoàn thiện mô hình trong thời gian tới.

Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, chuyển đổi số quốc gia được thúc đẩy mạnh mẽ. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ chủ động chuẩn bị, hoàn thiện hơn 40 hồ sơ dự án luật, nghị quyết trong thời gian rất gấp, với khối lượng công việc lớn, phức tạp để kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về sắp xếp, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gắn với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 và tháo gỡ ngay những vướng mắc, khó khăn có nguyên nhân từ pháp luật; trình Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV thông qua 38 luật, nghị quyết, cho ý kiến đối với 04 luật, là số lượng luật, nghị quyết lớn nhất từ trước đến nay tại một kỳ họp.

Công tác ứng phó với điều chỉnh chính sách thuế quan, thương mại của Hoa Kỳ được triển khai khẩn trương, hiệu quả và đạt được bước tiến quan trọng; hai đoàn đàm phán của hai nước đã thống nhất Tuyên bố chung Việt Nam - Hoa Kỳ về khuôn khổ Hiệp định thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng; Tổng Bí thư Tô Lâm đã điện đàm với Tổng thống Mỹ Donald Trump, khẳng định quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước, tạo niềm tin, kỳ vọng cho doanh nghiệp.

Ổn định chính trị, độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững; tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường. Các lực lượng duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, xử lý các tình huống phát sinh, không để bị động, bất ngờ; bảo đảm tuyệt đối an toàn các sự kiện chính trị, văn hóa của đất nước. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được chú trọng; triển khai hiệu quả tháng cao điểm đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Thông tin, truyền thông được đẩy mạnh, nhất là truyền thông chính sách; tăng cường đấu tranh phản bác, ngăn chặn thông tin xấu, độc và xử lý nghiêm các hành vi sai phạm. Công tác đối ngoại, ngoại giao kinh tế được thực hiện hiệu quả; tổ chức chu đáo, thành công các hoạt động đối ngoại cấp cao của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, góp phần củng cố và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

2. Tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, nền kinh tế nước ta còn những hạn chế, bất cập và tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Ổn định kinh tế vĩ mô còn tiềm ẩn rủi ro, áp lực đối với tỷ giá, lãi suất còn lớn. Các thị trường xuất khẩu bị ảnh hưởng, số đơn hàng giảm; chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 6 chỉ đạt 48,9 điểm (tháng thứ ba liên tiếp dưới 50 điểm). Tiêu dùng trong nước tuy tăng trưởng tích cực nhưng chưa có đột phá. Đầu tư tư nhân tuy phục hồi nhưng chưa vững chắc. Đầu tư phát triển khoa học công nghệ còn chậm; các ngành, lĩnh vực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn... chưa có chuyển biến rõ nét. Công tác hoàn thiện thể chế, pháp luật đã được quan tâm, chỉ đạo nhưng vẫn còn một số quy định pháp luật, thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực còn mâu thuẫn, phức tạp, chưa được sửa đổi kịp thời. Đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo... Thiên tai, bão lũ, thời tiết cực đoan diễn biến bất thường. Tình hình an ninh, trật tự tại một số địa bàn, tai nạn giao thông, cháy nổ, tội phạm công nghệ cao, lừa đảo qua mạng còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp...

3. Bài học kinh nghiệm

Chính phủ cơ bản đồng ý các bài học kinh nghiệm theo báo cáo của Bộ Tài chính, các ý kiến tại Hội nghị và nhấn mạnh một số bài học sau: (i) Phải bám sát chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch triển khai cụ thể, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả; (ii) Tăng cường đoàn kết, thống nhất, huy động tối đa sức mạnh của hệ thống chính trị và toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ; lấy Nhân dân làm trung tâm, tập trung tháo gỡ các rào cản, điểm nghẽn, kiên quyết cắt giảm thủ tục hành chính, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi; (iii) Chủ động nắm chắc tình hình, phản ứng chính sách kịp thời, nhanh nhạy, linh hoạt, nhìn xa trông rộng, nghĩ sâu làm lớn, quyết đoán, bản lĩnh trong xử lý các vấn đề phát sinh, hóa giải các bất lợi, bảo đảm hài hòa trong ngắn hạn và phát triển bền vững trong trung, dài hạn; kiên quyết không lùi bước trước khó khăn, kiên định mục tiêu đã đề ra, quyết tâm cao hơn, nỗ lực lớn hơn, hành động quyết liệt hơn, bám sát thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo; (iv) Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cá thể hóa trách nhiệm, đề cao vai trò của người đứng đầu, nâng cao tính chủ động, sáng tạo; gắn chỉ đạo với kiểm tra, đôn đốc, giải quyết khó khăn, vướng mắc và kịp thời động viên, khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh; (v) Làm tốt công tác thông tin, truyền thông, tạo động lực, niềm tin và đồng thuận xã hội.

II. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thời gian tới

Thời gian tới, dự báo tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; khó khăn, thách thức nhiều hơn thời cơ, thuận lợi, tạo áp lực lên chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Trước tình hình đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, thống nhất, chung sức đồng lòng, tập trung quán triệt, triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả hơn nữa các Nghị quyết, Kết luận, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đồng chí Tổng Bí thư và Lãnh đạo chủ chốt, của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; tận dụng thời cơ, thuận lợi, nhất là hiệu quả của chính sách, giải pháp mới ban hành và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, khai thác không gian phát triển mới, thúc đẩy tăng trưởng ngay trong quý III và năm 2025; nỗ lực cao nhất, phấn đấu hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, nhất là tốc độ tăng trưởng cả năm đạt 8% trở lên; trong đó chú trọng một số nội dung sau đây:

1. Tổ chức triển khai hiệu quả các Nghị quyết của Bộ Chính trị về: đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia; đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật; hội nhập quốc tế; phát triển kinh tế tư nhân

a) Các bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, hoàn thành các nhiệm vụ xác định thời hạn cụ thể trong năm 2025 đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao tại các Chương trình hành động thực hiện 04 Nghị quyết “bộ tứ chiến lược” của Bộ Chính trị; tăng cường đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện; định kỳ sơ kết, tổng kết, đánh giá; báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đối với các vấn đề vượt thẩm quyền.

b) Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương khẩn trương hoàn thiện Đề án phát triển, trọng dụng nhân tài, nhân lực chất lượng cao, nhất là cán bộ chuyên gia đầu ngành phục vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 9 năm 2025.

c) Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương khẩn trương hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành Nghị định, hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 197/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.

d) Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương tổ chức triển khai chương trình tuyên truyền, phổ biến sâu rộng về Nghị quyết số 59-NQ/TW và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc tế.

đ) Bộ Tài chính chủ trì tổng hợp tình hình triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của các bộ, ngành, địa phương, đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể với Ban Chỉ đạo quốc gia để thúc đẩy hiệu quả hơn việc triển khai Nghị quyết này.

e) Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực, nhân tài khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước; trình Chính phủ trong tháng 7 năm 2025 nghị định về chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.

2. Tích cực, khẩn trương, chủ động, tập trung nguồn lực hoàn thiện thể chế, pháp luật gắn với sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm thông suốt, hiệu quả

a) Các bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao:

(1) Tiếp tục rà soát, thực hiện sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong năm 2025 theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, các Kết luận số 121-KL/TW, 126-KL/TW, 167-KL/TW và 169-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; bảo đảm hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp liên thông, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả; xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong 6 tháng cuối năm 2025.

(2) Rà soát, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ với thời điểm có hiệu lực của Hiến pháp năm 2013 sửa đổi; khẩn trương ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 9 liên quan đến tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.

(3) Theo dõi sát hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp, việc thực hiện 28 nghị định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền để kịp thời tháo gỡ vướng mắc; khẩn trương khắc phục tồn tại của một số thôn, xã không có điện, sóng điện thoại, bảo đảm bộ máy hoạt động thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, không để gián đoạn công việc, không bỏ trống địa bàn, lĩnh vực hoặc ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của Nhân dân.

(4) Giải quyết kịp thời chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, Nghị định số 67/2025/NĐ-CP của Chính phủ và các nhiệm vụ triển khai sắp xếp đơn vị hành chính, chính quyền địa phương 2 cấp. Triển khai Nghị quyết của Quốc hội, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2025 theo đơn vị hành chính mới. Rà soát, sắp xếp, sử dụng trụ sở làm việc, phương tiện, tài sản công, tài chính, điều kiện làm việc sau sắp xếp, bảo đảm đúng mục đích, tiết kiệm, không để thất thoát, lãng phí; mua sắm bổ sung tài sản, thiết bị (nếu thiếu) phù hợp với tiêu chuẩn, định mức và quy định pháp luật.

b) Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành các Nghị định quy định: chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ (thay thế Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2016 và các nghị định có liên quan).

c) Bộ Tài chính bố trí đầy đủ, kịp thời nguồn kinh phí chi trả chế độ, chính sách theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, Nghị định số 67/2025/NĐ-CP của Chính phủ; tổng hợp báo cáo cấp thẩm quyền bổ sung dự toán chi ngân sách nhà nước cho các bộ, cơ quan Trung ương, bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho các địa phương thiếu nguồn.

d) Bộ Tư pháp tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tổ chức triển khai hiệu quả Chương trình lập pháp của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2025; chuẩn bị đề xuất của Chính phủ về chương trình lập pháp năm 2026.

3. Thúc đẩy tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; phấn đấu tăng trưởng 8% trở lên trong năm 2025

a) Các bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao:

(1) Theo dõi chặt chẽ diễn biến giá cả, thị trường, không để thiếu hàng, gián đoạn nguồn hàng, tăng giá đột biến, nhất là đối với lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, nhà ở, vật tư nông nghiệp, sách giáo khoa...; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về giá, đầu cơ, găm hàng đội giá, thao túng giá.

(2) Rà soát, có giải pháp cụ thể thúc đẩy, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu), thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới từ chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi xanh, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ, các dự án quy mô lớn, có tính lan tỏa mạnh mẽ, các dự án hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục, các lĩnh vực giá trị gia tăng cao...

b) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương:

(1) Chủ động, khẩn trương phối hợp với các cơ quan, địa phương và Hội đồng Tư vấn chính sách, trên cơ sở dự báo bối cảnh tình hình thế giới, trong nước, kinh nghiệm 4 năm vừa qua (nhất là thực tiễn tăng trưởng quý III và quý IV), xây dựng kịch bản tăng trưởng kinh tế và các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp điều hành trọng tâm quý III và quý IV năm 2025, trong đó xác định rõ dư địa của các động lực tăng trưởng, điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng năm 2025 của các địa phương theo đơn vị hành chính mới, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng cả năm 2025 đạt 8% trở lên; báo cáo Chính phủ trong tháng 7 năm 2025.

(2) Theo dõi sát diễn biến giá cả, thường xuyên cập nhật kịch bản lạm phát để có giải pháp điều hành giá phù hợp.

(3) Tiếp tục đẩy mạnh hiện đại hóa công tác quản lý thuế, mở rộng cơ sở thu; quyết liệt thực hiện phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả; tăng cường quản lý thu ngân sách nhà nước đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh tế số, kinh doanh xuyên biên giới, dịch vụ ăn uống, thu từ đất đai, tài nguyên, khoáng sản, thu từ hộ, cá nhân kinh doanh... phấn đấu thu ngân sách nhà nước năm 2025 tăng 20% so với dự toán.

c) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục theo dõi sát tình hình thế giới và trong nước, điều hành chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ; điều hành tỷ giá, lãi suất đồng bộ, hài hòa, hợp lý; phấn đấu giảm mặt bằng lãi suất cho vay; chỉ đạo các tổ chức tín dụng hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng. Khẩn trương xem xét việc gỡ bỏ công cụ hành chính trong điều hành tăng trưởng tín dụng; chuyển việc điều hành tăng trưởng tín dụng theo cơ chế thị trường và đánh giá rủi ro của từng tổ chức tín dụng, xây dựng bộ tiêu chí kiểm soát an toàn tín dụng; hoàn thành trong tháng 7 năm 2025 theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 104/CĐ-TTg ngày 06 tháng 7 năm 2025.

d) Các Bộ: Xây dựng, Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Môi trường phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ như: Chương trình tín dụng đối với người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội, chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, công nghệ số; chương trình tín dụng hỗ trợ liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long...

4. Tập trung đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, nhất là các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực

a) Các bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao:

(1) Thực hiện nghiêm quy định pháp luật và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công năm 2025. Giao chỉ tiêu giải ngân vốn hằng tháng đến từng chủ đầu tư; thường xuyên rà soát, đôn đốc, tháo gỡ theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý khó khăn, vướng mắc phát sinh của từng dự án. Kịp thời điều chỉnh vốn từ dự án giải ngân chậm hoặc không có khả năng giải ngân sang dự án giải ngân tốt, có nhu cầu bổ sung vốn; quyết tâm giải ngân đạt 100% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.

(2) Tăng tốc, tập trung xây dựng, thực thi, huy động tổng đầu tư toàn xã hội của năm 2025 tăng từ 11 - 12% so với năm 2024.

(3) Phát huy hơn nữa hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo 751 về giải quyết khó khăn, vướng mắc cho các dự án và các Ban Chỉ đạo, Tổ công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để kiểm tra, làm việc với các địa phương, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, xây dựng hạ tầng và xuất nhập khẩu.

(4) Khẩn trương rà soát các dự án, công trình đủ điều kiện khởi công hoặc khánh thành vào ngày 19 tháng 8 năm 2025 nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, gửi Bộ Xây dựng trước ngày 15 tháng 7 năm 2025.

(5) Về phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công: 34 địa phương khẩn trương rà soát, đề xuất điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 - 2025 và năm 2025 của các địa phương sau khi sáp nhập; theo đó, hoàn thành điều chỉnh kế hoạch vốn ngân sách địa phương trước ngày 20 tháng 7 năm 2025, đối với vốn ngân sách trung ương gửi Bộ Tài chính trước ngày 15 tháng 7 năm 2025 để tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

b) Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương:

(1) Theo dõi tình hình, biến động giá cả, nguồn cung vật liệu xây dựng, đề xuất các giải pháp bình ổn thị trường, đảm bảo nguồn cung ứng vật liệu xây dựng ổn định, nhất là vật liệu xây dựng thông thường (cát, đất đắp nền) cho các dự án, tránh tình trạng đầu cơ, găm hàng, gây tăng giá đột biến, ảnh hưởng đến tiến độ thi công các dự án; kịp thời báo cáo, đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các phương án ứng phó cụ thể.

(2) Tăng cường theo dõi, kiểm tra, giám sát việc triển khai các dự án do địa phương làm cơ quan chủ quản, kịp thời tham mưu Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo điều hành, đáp ứng tiến độ đề ra.

5. Thúc đẩy sản xuất công nghiệp, tăng cường xúc tiến thương mại, bảo đảm cân đối cung cầu trong nước; đẩy mạnh xuất khẩu; phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

a) Các bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao:

(1) Tiếp tục rà soát, điều chỉnh các cơ chế, chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, tạo động lực trực tiếp cho các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trọng điểm (điện tử, ô tô, máy móc, dệt may, da giày...) mở rộng đầu tư sản xuất, kinh doanh, tạo năng lực sản xuất mới, bảo đảm cung ứng hàng hóa đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.

(2) Triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại và phân phối hàng hóa qua nền tảng số, hỗ trợ cung cấp thông tin thị trường, tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp để khơi thông thị trường trong nước; đẩy mạnh Cuộc vận động “Người

- Tải về tài liệu PDF

- In tài liệu
Đang cập nhật

Viết đánh giá

     Nội dung không đầy đủ   Thông tin không chính xác   Khác 
Lưu ý: không hỗ trợ HTML!